Đứng đầu trong Top 4 đặc sản cá biển hàng đầu Việt Nam (Chim - Thu - Nhụ - Đé), cá chim mang lại nhiều giá trị về dinh dưỡng, kinh tế, và một số giá trị đặc biệt khác. Theo thống kê từ các nguồn tài liệu uy tín về động vật, hiện cá chim được phân thành 8 loại với nhiều thông tin hữu ích đi kèm; trong đó, cá chim trắng, cá chim đen là 2/8 loại phổ biến và có giá trị nhất tại thị trường cá Việt Nam.
cá chim đen, cá trà, cá chim Parastromateus niger Black Pomfret bản địa khu vực rạn san hô trong Ấn Độ Dương và tây Thái Bình Dương. Tại Việt Nam, phân bố chủ yếu tại vịnh Bắc bộ, vùng biển Trung bộ và đông, tây Nam bộ. thân hình thoi rất cao, dẹp 2 bên - đầu to, mồm tròn tù - mắt không có mí mắt mỡ - miệng nhỏ ở phía trước đầu, hơi xiên - răng 2 hàm nhọn, nhỏ, một hàng và sắp xếp rất thưa - vậy lưng, vây ngực và vây hậu môn dài - có màu nâu xám với các điểm màu xanh xám - sống theo đàn lớn dài khoảng 75cm, tương đương 32 inch tôm tép nhỏ, động vật phù du và động vật đáy cỡ nhỏ sử dụng lưới rê, lưới kéo đáy quanh năm cá chim trắng, cá giang Pampus argenteus Silver pomfret, White pomfret ngoài khơi Trung Đông, Nam Á, Đông Nam Á. Tại Việt Nam, chúng phân bố chủ yếu tại vịnh Bắc bộ, vùng biển Trung bộ thân hình thoi ngắn, gần như tròn, rất dẹp bên - bắp đuôi ngắn, cao - đầu nhỏ, dẹp bên - mắt tương đối lớn - miệng rất bé, gần như thẳng đứng, hàm dưới ngắn hơn hàm trên - mồm rất ngắn, tù, tròn - răng rất nhỏ, hơi dẹt, một hàng nhỏ, sếp sít nhau - toàn thân phủ vảy tròn nhỏ, trừ mồm - vây lưng dài, hình lưỡi liềm, gai cứng ẩn dưới da; vây hậu môn đồng dạng với vây lưng; không có vây bụng - đuôi vây chia thành hai thùy, thùy dưới dài hơn thùy trên - toàn thân màu trắng chiều dài thân bằng 1,2-1,4 lần chiều cao thân, bằng 3,6-4 lần chiều dài đầu tôm tép nhỏ, động vật phù du và động vật đáy cỡ nhỏ sử dụng lưới rê, câu, lưới kéo đáy ăn tươi hoặc đông lạnh cá chim gai, cá liệt sứa, cá tín Psenopsis anomala Butterfish, Japanese butterfish, Pacific rudderfish Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam (vịnh Bắc bộ và vùng biển miền Trung) có những đặc điểm khá giống với cá chim trắng, tuy nhiên kích thước có phần nhỏ hơn động vật ăn thịt (tôm tép nhỏ, động vật phù du) cá chim nàng Chaetodon adiergastos Philippine butterflyfish thuộc phân chi Rabdophorus tây Thái Bình Dương, từ quần đảo Nansei và Đài Loan đến Java và tây bắc nước Úc thân rộng, hình bầu dục, hai bên thân cá có màu trắng với những sọc chéo màu nâu dạng hoa văn hướng lên - vây lưng, vây đuôi, vây bụng và vây hậu môn có màu vàng - trên mặt cá có những dải hình tròn rộng có màu đen che phủ phần mắt nhưng không kéo dài sang phía mặt bên kia và bị tách biệt bởi một chấm đen nằm giữa trán - cá chim trắng nước ngọt, cá chim nước ngọt, cá chim sông
- Piaractus brachybomus
- Pirapitinga
- Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam
- ăn tạp và phàm ăn, săn mồi theo bầy - thân gần như tròn, có màu bạc hoặc trắng với một ít vảy - cơ thể bằng phẳng - đầu nhỏ hẹp - mắt lớn - có bộ răng cửa rất cứng, sắc - vây đuôi chẻ có điểm vân đen ở diềm đuôi, vây ngực dài, vây bụng và vây hậu môn có màu đỏ - chịu nhiệt độ thấp kém, dưới 10 độ C có thể có biểu hiện không bình thường và chết
- ao, hồ, đầm
- 4-6 kg/ con trưởng thành
- các loài phù du sinh vật, hạt ngũ cốc, rau củ quả, lá bí, lá mướp, xác động vật chết, các loại chế phẩm của lò mổ,...
- sử dụng các loại lưới, dễ đánh bắt do hiền lành
- phổ biến vào mùa hè.
- cá chim trắng có màu trắng sáng, sống ở ngoài khơi; còn cá chim đen có màu xẫm hơn, sống ở vùng duyên hải đáy bùn.